|
I. Lịch sử phát triển:
Sự phát triển của ngành Gây mê
hồi sức thế giới, nhu cầu của ngành ngoại khoa trong nước và của cuộc
kháng chiến bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi thành lập khoa Gây mê hồi sức.
- Trước 1962: Gây mê phần lớn do các y sĩ đảm nhiệm dưới sự phụ trách
chung của phẫu thuật viên.
- Năm 1962: Thành lập khoa Phẫu thuật- Gây mê hồi sức.
- Năm 1967: Thành lập phòng Hồi sức tập trung.
- Năm 1996-1997: Cải tạo và nâng cấp 11 phòng mổ do chính phủ Pháp giúp
đỡ.
- Năm 1998-2000: Xây dựng mới 5 phòng mổ và phòng hồi sức tích cực với
16 giường bệnh do Chính phủ Đức giúp đỡ.
- Năm 2000: Thành lập 3 phòng hồi tỉnh với 12 giường bệnh.
Các giai đoạn phát
triển:
- 1963-1965: Gây mê hạ thể nhiệt, tuần hoàn ngoài cơ thể trong mổ
tim, thận nhân tạo.
- 1965-1975: Phục vụ cuộc kháng chiến cứu nước.
- 1975-1990: Củng cố, khắc phục khó khăn do hậu quả chiến tranh,
tham gia nghiên cứu hậu quả chất độc màu da cam trên người.
- 1990 đến nay: Xây dựng và phát triển, mở rộng quan hệ quốc tế, hội
nhập và tiếp cận về trình độ gây mê hồi sức với các nước trong khu
vực và trên thế giới.
Trưởng khoa
GS Tôn Đức Lang (1960 - 1990)
GS Nguyễn Thụ (1990 - 2003 )
GS Chu Mạnh Khoa (2003 - 2008)
PGS-TS. Nguyễn Quốc Kính
(2008-
Phó trưởng khoa
GS. Nguyễn Thụ (1960 - 1990)
BS. Trần Quang Dương (1960 - 1990)
GS .Chu Mạnh Khoa (1990 - 2003)
BS. Ng.Đỗ Ngọc Minh (1990 - 1998)
PGS-TS. Nguyễn Quốc Kính (1990 - 2008)
BSCKII.Ths.Đỗ Ngọc Lâm (2003- đến nay)
Ths.Đỗ Danh Quỳnh (2004- đến nay)
Ts.Trịnh Văn Đồng (12/2008-
Y tá trưởng
Tô Thị Điền (1960 - 1990)
Nguyễn Phan Chung (1960 - 1997)
Nguyễn Thị Loan (1990 - 2001)
Lê Thị Hồng Nhung (1998 - đến nay)
Phan Thị Dung (1998 - 2008)
II. Chức năng nhiệm vụ:
- Vô cảm trong mổ và giảm đau
sau mổ.
- Hồi sức trước, trong, sau mổ các bệnh nhân nặng.
- Nghiên cứu khoa học và đào tạo, là cơ sở thực hành của bộ môn Gây mê
hồi sức Đại học Y Hà Nội.
- Tham gia chỉ đạo tuyến về Gây mê hồi sức, giúp đỡ các đơn vị bạn khi
cần.
- Hợp tác khoa học kỹ thuật với các nước phát triển và các nước trong
khu vực Đông Nam Á.
III. Tổ chức nhân sự:
Nhân sự:
- Bác sĩ (kể cả Trường Đại học y) : 19 (1GS, 2PGS, 1TS, 2 CK2, 8ThS)
- Y tá và nhân viên khác : 150.
IV. Hoạt động chuyên môn:
1. Cơ sở vật chất:
Trang bị các máy mê, máy thở, monitor đa thông số, máy tuần hoàn ngoài
cơ thể, máy thận nhân tạo, truyền hình cáp, bộ mổ nội soi, dao cắt gan
siêu âm, XQ tăng sáng truyền hình,siêu âm trong mổ, kính hiển vi- vi
phẫu... hiện đại theo tiêu chuẩn Âu, Mỹ.
2. Kết quả chuyên môn:
- Gây mê hồi sức các phẫu thuật mũi nhọn: Cắt gan theo phương pháp Tôn
Thất Tùng, mổ tim mở dưới tuần hoàn ngoài cơ thể, nội soi (ổ bụng, tiết
niệu, đường mật), thực quản, u não, thay khớp háng và khớp gối,...
- Các kỹ thuật Gây mê hồi sức: Tê vùng, gây mê bằng thuốc mê bốc hơi hệ
kín, gây mê tĩnh mạch hoàn toàn, mát thanh quản, đặt nội khí quản khó,
gây mê hồi sức đa chấn thương, sốc nhiễm trùng, ghép tạng, nuôi dưỡng
sau mổ,...
- Trước 1995: Mổ 4.000-5.000 trường hợp/năm.
- Từ 2000: Mổ trên 16.000 trường hợp/năm, hồi sức 650 bệnh nhân
nặng/năm.
3. Đào tạo chuyên khoa Gây
mê hồi sức:
+ Y tá trung cấp và cử nhân chuyên khoa (324)
+ Bác sĩ chuyên khoa sơ bộ (300), cấp I (170), cấp II (10), nội trú
(21), thạc sĩ (37), nghiên cứu sinh (8).
- Nhiều đề tài công bố trong nước và ngoài nước về : Gây mê hồi sức
trong mổ cắt gan, trong sốc đa chấn thương và hồi sức trong điều kiện
chiến tranh, sốc nhiễm trùng, nuôi dưỡng sớm qua đường ruột, gây tê tuỷ
sống bằng Pethidine, suy thận cấp trong ngoại khoa,...
- Quan hệ quốc tế: Nga,Trung quốc, Đức, Bungari, Hà Lan, Pháp, Mỹ,
Canada, Thái lan, Đài loan, hội viên Hội Gây mê hồi sức thế giới, hội
viên Hội Gây mê hồi sức ASEAN,..
V. Hướng phát triển:
- Nhiễm trùng bệnh viện và
công tác vô trùng.
- Giảm đau sau mổ.
- Gây mê hồi sức mổ mạch vành.
- Gây mê hồi sức ghép tạng.
- Hồi sức chấn thương sọ não.
- Nghiên cứu mức độ mê bằng lưỡng phổ (BIS).
- Gây mê, tê mổ ngoại trú.
- Tham gia hoạt động ngoài khu mổ : hồi sức, khám gây mê, cấp cứu ngoại
viện.
|